Cải tiến chính sách cho vay giải quyết việc làm: Kinh nghiệm thực tiễn từ NHCSXH

This post is also available in: English (English)

Hơn 13 năm cho vay, chương trình cho vay giải quyết việc làm (GQVL) từ Quỹ quốc gia về việc làm đã thu hút và tạo việc làm cho hơn 3 triệu lao động, góp phần giảm tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động từ 5,87% (năm 2003) xuống 2,31% vào cuối năm 2015. Để đạt được thành công này là cả một quá trình nỗ lực, cải tiến chính sách cho vay GQVL của Ngân hàng Chính sách xã hội (NHCSXH) phù hợp với thực tế. Giờ đây mong muốn của NHCSXH là được phân bổ ngân sách nhà nước hàng năm, huy động và tạo thêm nguồn vốn bổ sung để kịp thời cho vay, đáp ứng nhu cầu vay vốn tạo việc làm của của doanh nghiệp và người lao động.

vv

Nguồn vốn ưu đãi từ chương trình cho vay giải quyết việc làm của NHCSXH những năm qua đã thu hút, tạo việc làm cho khoảng 3 triệu lao động.

Nguồn vốn hạn chế, nhiều đầu mối tham gia quản lý

Nhớ lại thời điểm năm 2003 – năm đầu tiên Ngân hàng Chính sách xã hội (NHCSXH) hoạt động hết sức khó khăn vì nguồn vốn được Nhà nước cấp rất hạn chế, cơ sở vật chất thiếu thốn, công nghệ lạc hậu, cán bộ chuyên môn thiếu, yếu. Thêm vào đó, NHCSXH tiếp nhận 3 chương trình tín dụng ưu đãi gồm cho vay hộ nghèo từ Ngân hàng Nông nghiệp & Phát triển nông thôn, cho vay giải quyết việc làm (GQVL) từ Kho bạc Nhà nước, cho vay học sinh, sinh viên có hoàn cảnh khó khăn từ Ngân hàng Công thương Việt Nam với nguồn vốn ít ỏi và tỷ lệ nợ quá hạn cao. Trong tổng dư nợ nhận bàn giao về cho vay giải quyết việc làm từ Kho bạc Nhà nước là 1.533 tỷ đồng, tỷ lệ nợ quá hạn chiếm đến 10,1%, tiềm ẩn rủi ro tín dụng khá lớn.

Trong bối cảnh khó khăn như vậy, bài toán đặt ra đối với NHCSXH là làm thế nào để nâng cao chất lượng tín dụng, giảm tỷ lệ nợ quá hạn nhằm phát huy hiệu quả cao nhất từ cho vay Quỹ quốc gia về việc làm.

Ngay từ khi nhận bàn giao từ Kho bạc Nhà nước, dưới sự chỉ đạo sát sao của Đảng, Chính phủ và tinh thần ý chí của tập thể cán bộ và lãnh đạo trong toàn hệ thống, NHCSXH đã phối hợp chặt chẽ với các chính quyền địa phương, các hội đoàn thể nhận ủy thác đẩy nhanh tiến độ thẩm định, rà soát, giải quyết dứt điểm các trường hợp nợ xấu, ủy quyền thẩm định có giám sát thực hiện, xét duyệt và giải ngân thông qua việc giao chỉ tiêu tín dụng hàng năm cho các đơn vị thực hiện. Chủ động xây dựng các giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng, hạ thấp tỷ lệ nợ xấu.

Chỉ sau 3 năm hoạt động, đến cuối năm 2015, nguồn vốn cho vay giải quyết việc làm tăng từ 1.000 tỷ đồng lên gần 3.000 tỷ đồng (tăng 2.000 tỷ đồng so với khi nhận bàn giao); dư nợ cho vay cũng đạt tới 2.568 tỷ đồng, tăng 1.035 tỷ đồng so với khi nhận bàn giao, giải quyết việc làm cho 380 nghìn lao động.

Từ kinh nghiệm thực tiễn, sau 3 năm cho vay giải quyết việc làm từ Quỹ quốc gia về việc làm, cơ chế quản lý, điều hành vốn, trình tự và thủ tục cho vay theo Nghị quyết 120 của Hội đồng Bộ trưởng vẫn còn nảy sinh một số vấn đề bất cập. Đó là quá trình phân phối, điều chuyển vốn thực hiện qua nhiều kênh, thời gian thẩm định, phê duyệt dự án xin vay vốn dài và trình qua nhiều đơn vị phê duyệt. Kênh thứ nhất là các cơ quan trung ương gồm Hội Liên hiệp Phụ nữ, Hội Nông dân, Hội Cựu chiến binh Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Mặt trận Tổ quốc, Tổng Liên đoàn Lao động, Hội người Mù, Hội đồng Liên minh Hợp tác xã, Bộ Quốc phòng (gọi chung là Hội). Nguồn vốn được phân phối cho từng tổ chức ở trung ương, sau đó từ cấp Trung ương phân phối cho tổ chức Hội cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã. Các dự án được lập từ cơ sở chuyển về Trung ương hội phê duyệt sau đó mới chuyển về cơ sở; giao Kho bạc giải ngân theo địa chỉ dự án đã phê duyệt.

Kênh thứ hai, Bộ Kế hoạch và Đầu tư thông báo phân phối vốn cho Ủy ban Nhân dân (UBND) các tỉnh, thành phố; UBND các tỉnh, thành phố phân phối vốn cho các quận, huyện, giúp việc hướng dẫn xây dựng dự án, trình duyệt dự án do cơ quan Lao động-Thương binh và Xã hội cùng cấp thực hiện và Kho bạc giải ngân theo địa chỉ dự án đã phê duyệt. Các dự án được cho vay trực tiếp đến các cơ sở sản xuất, Hợp tác xã, Doanh nghiệp vừa và nhỏ, riêng dự án cho hộ gia đình thì thực hiện cho vay theo nhóm hộ, Trưởng nhóm đứng ra nhận tiền vay sau đó phát tiền vay cho từng hộ (Kho bạc phát tiền vay cho nhóm trưởng). Các tổ chức được phân bổ vốn gồm các cơ quan hội ở TW và UBND các cấp quyết định cho vay, thu nợ, thu lãi một lần khi đến hạn, gia hạn nợ và xử lý nợ rủi ro (thực hiện theo nguyên tắc: vốn giao cho tổ chức nào thì tổ chức đó xử lý).

Từng bước cải tiến cơ chế quản lý, quy trình thủ tục cho vay

Qua khảo sát thực tế cho thấy, nhu cầu vay vốn của bà con để sản xuất kinh doanh ngày một tăng trong khi mức cho vay còn hạn chế. Để cải tiến chất lượng chương trình cho vay GQVL, NHCSXH đã chủ động tham mưu với Bộ Lao động, Thương binh và xã hội, trình Thủ tướng chính phủ ban hành Quyết định 71/2005/QĐ-TTg về cơ chế quản lý, điều hành vốn cho vay của Quỹ quốc gia giải quyết việc làm.

Theo cơ chế cho vay mới tại Quyết định số 71 có một số ưu việt hơn cơ chế cho vay trước đây của chương trình. Đối tượng khách hàng được vay vốn giải quyết việc làm mở rộng hơn, trước đây chỉ cho vay Hợp tác xã hoạt động trong lĩnh vực tiểu thủ công nghiệp, xây dựng, vận tải, thương mại và dịch vụ nay mở rộng ra đối với các hợp tác xã hoạt động theo Luật Hợp tác xã và Trung tâm giáo dục lao động xã hội đã góp phần phát huy tối đa tiềm năng, tận dụng điều kiện sản xuất kinh doanh hiện có của nhiều thành phần kinh tế để tạo ra nhiều việc làm cho xã hội. Các đối tượng vay từ 15 triệu đồng trở xuống không phải thế chấp tài sản nhưng phải có bảo lãnh bằng tín chấp, nhưng theo cơ chế mới thì hộ gia đình vay vốn không phải thế chấp tài sản và cũng không phải có bảo lãnh bằng tín chấp, với quy định đó đã giúp các hộ gia đình khó khăn có điều kiện tiếp cận với vốn tín dụng để phát triển kinh tế gia đình và tạo cho con em họ có việc làm ổn định.

Mức cho vay đã được điều chỉnh từ 15 triệu đồng lên 20 triệu đồng/hộ với hộ gia đình và từ 200 triệu đồng lên 500 triệu đồng/dự án với các cơ sở sản xuất, kinh doanh. Với mức cho vay này, về cơ bản đã đáp ứng nhu cầu vốn phục vụ sản xuất kinh doanh của hộ gia đình và các cơ sở sản xuất kinh doanh trong giai đoạn này. Việc thẩm định và phê duyệt dự án đã được phân cấp thẩm quyền cho cấp dưới. Việc phân cấp thẩm định và phê duyệt này đã giảm bớt công việc cho cơ quan Trung ương thực hiện chương trình, đồng thời tạo điều kiện giảm bớt thời gian chờ đợi thẩm định và phê duyệt dự án vay vốn của khách hàng vay và tăng cường khâu giám sát trực tiếp của cấp cơ sở, góp phần đẩy nhanh việc giải ngân vốn, hạn chế vốn tồn đọng. NHCSXH phát tiền vay và thu nợ trực tiếp đến người vay không uỷ nhiệm cho chủ dự án giải ngân vốn cho vay và thu nợ đối với từng hộ trong dự án nhóm hộ mà thực hiện giải ngân, thu nợ trực tiếp đến từng hộ vay. Với quy định này vốn vay đã trực tiếp đến người vay, hạn chế việc chiếm dụng và thất thoát vốn vay, góp phần bảo toàn được nguồn vốn cho vay của Quỹ quốc gia giải quyết việc làm.

Đến tháng 1/2008, NHCSXH tiếp tục tham mưu trình Chính phủ ban hành Quyết định 15/2008/QĐ-TTg về sửa đổi, bổ sung một số điều của Quyết định 71. Thời kỳ này, việc phân phối và điều chuyển vốn vẫn thực hiện như giai đoạn từ tháng 4/2005 đến năm 2007. Tuy nhiên, cơ chế quản lý của Quỹ còn có một số cải tiến theo hướng thuận lợi hơn trong triển khai thực hiện. Đối với dự án có mức vay trên 30 triệu đồng của Cơ sở sản xuất kinh doanh thì mới phải có tài sản thế chấp, cầm cố theo quy định hiện hành. Khi có nhu cầu vay vốn các đối tượng vay vốn phải xây dựng dự án, lập hồ sơ vay vốn theo hướng dẫn của NHCSXH, NHCSXH chịu trách nhiệm tổ chức thẩm định trình cơ quan có thẩm quyền ra quyết định phê duyệt dự án.

Hiệu quả ngày càng rõ rệt

Sau hơn 9 năm thực hiện, đến ngày 31/12/2012, tổng dư nợ cho vay GQVL đạt 5.663 tỷ đồng, tăng so với thời điểm nhận bàn giao là 4.130 tỷ đồng, với 1,3 triệu lượt khách hàng vay vốn. Tỷ lệ nợ quá hạn 2,74%, giảm 5,06% so với khi nhận bàn giao.

Trong giai đoạn 2013 – 2015, cho vay vốn từ Quỹ quốc gia về việc làm đã góp phần tích cực giải quyết được trên 443 ngàn lao động có việc làm mới cho xã hội, góp phần khôi phục các ngành nghề truyền thống, đã hỗ trợ vốn cho các cơ sở sản xuất kinh doanh và hộ gia đình để mở rộng sản xuất, thu hút tạo việc làm cho hàng triệu người lao động đặc biệt là lao động bị chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp, lao động nữ, lao động là người khuyết tật, góp phần làm giảm tỷ lệ thất nghiệp, tăng thu nhập, cải thiện đời sống cho người lao động. Nợ quá hạn liên tục giảm qua hàng năm, cụ thể đến 31/12/2015 nợ quá hạn là 62 tỷ đồng, chiếm tỷ lệ 0,95%, giảm 65 tỷ đồng so với năm 2013. Tỷ lệ nợ quá hạn giảm phản ánh chất lượng tín dụng Quỹ quốc gia về việc làm không ngừng được nâng lên. Dự án kém hiệu quả, không thu được nợ ngày càng giảm và nguồn vốn của Quỹ được bảo toàn.

Cho vay vốn từ Quỹ quốc gia về việc làm đã góp phần thay đổi cơ cấu kinh tế theo hướng sản xuất hàng hóa ở nông thôn, đã làm thay đổi nhận thức của một bộ phận những hộ sản xuất kinh doanh nhỏ, lẻ chưa bắt kịp với phương thức sản xuất lớn. Thông qua cho vay vốn của Quỹ quốc gia về việc làm đã xuất hiện rất nhiều điển hình về làm ăn kinh tế giỏi, không chỉ ở khu vực thành thị mà còn có ở khu vực nông thôn, vùng khó khăn, vùng sâu, vùng xa, hải đảo và đồng bào dân tộc thiểu số. Đây được xem là chính sách đúng đắn, hợp lòng dân. Cũng thông qua chương trình cho vay này, các hội, đoàn thể có điều kiện đi sâu, đi sát tới từng cơ sở hơn, từ đó gắn kết hoạt động kinh tế với nhiệm vụ chính trị của tổ chức mình, đẩy mạnh các phong trào thi đua làm kinh tế giỏi.

Sự chung tay vào cuộc của cộng đồng

Theo đánh giá của  Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội, chính sách tín dụng nói chung và chính sách tín dụng ưu đãi đối với cho vay giải quyết việc làm cùng với mô hình tổ chức của NHCSXH theo Nghị định 78/2002/NĐ-CP của Chính phủ là phù hợp, có hiệu quả cao. Để có những thành tựu về tạo lập nguồn vốn và tổ chức thực hiện hiệu quả các chương trình tín dụng chính sách của Nhà nước, NHCSXH đã xây dựng được mô hình tổ chức và phương thức quản lý tín dụng đặc thù, phù hợp với điều kiện thực tiễn nước ta. Đó là mạng lưới hoạt động của NHCSXH được xây dựng từ Trung ương đến tỉnh, huyện, với 63 chi nhánh cấp tỉnh, 629 phòng giao dịch cấp huyện, cùng đội ngũ hơn 9.000 cán bộ, viên chức tinh thông nghề nghiệp tín dụng chính sách.

Mạng lưới hoạt động của NHCSXH còn được thể hiện ở gần 11.000 điểm giao dịch xã, tạo điều kiện thuận tiện nhất cho khách hàng là hộ nghèo và gia đình đồng bào DTTS tiếp cận dễ dàng với nguồn vốn chính sách. Chính tổ chức mạng lưới rộng lớn này đã tập trung huy động được nguồn lực và chuyển tải kịp thời nguồn vốn đến tận nơi ở của người nghèo và các đối tượng chính sách một cách an toàn và tiết kiệm.

Cùng với đó là mô hình ủy thác cho vay thông qua 4 tổ chức hội, đoàn thể nhận ủy thác và thành lập hệ thống gần 200 nghìn Tổ tiết kiệm và vay vốn trên địa bàn cả nước đã huy động được sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị vào cuộc, chuyển tải nguồn vốn chính sách đến kịp thời các đối tượng thụ hưởng, giúp họ biết sử dụng vốn vay vào sản xuất, giảm nghèo bền vững, nâng cao cuộc sống. NHCSXH phối hợp chặt chẽ với chính quyền các địa phương đã quan tâm triển khai thực hiện đầy đủ, kịp thời các chính sách tín dụng ưu đãi cho hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác. Với vai trò chủ trì, NHCSXH các tỉnh đã chủ động, tích cực triển khai, tổ chức thực hiện, theo dõi, hướng dẫn, kiểm tra, nâng cao hiệu quả cho vay, bảo đảm dư nợ và kiểm soát được dư nợ quá hạn. Từ cách làm này, NHCSXH đã trở thành công cụ mang tính đòn bẩy kinh tế của Nhà nước trong thực hiện mục tiêu xóa đói giảm nghèo.

Hơn 3 triệu lao động có việc làm

Để phát huy hiệu quả nguồn vốn vay giải quyết việc làm hơn nữa, đáp ứng nhu cầu vay vốn ngày một tăng của bà con nhân dân, phù hợp với diễn biến kinh tế trong và ngoài nước khi mà tỷ lệ thất nghiệp có nguy cơ ngày càng tăng, NHCSXH không ngừng nỗ lực huy động nguồn vốn, tìm tỏi, đúc rút kinh nghiệm để cải tiến quy trình, thủ tục cho vay từ Quỹ quốc gia về việc làm. Theo phản ánh của trực tiếp từ các cấp chính quyền, hội, đoàn thể và đối tượng vay vốn, nhu cầu vay vốn giải quyết việc làm của người dân ngày càng tăng cao, trong khi đó nguồn vốn vay từ chương trình rất hạn hẹp. Bên cạnh đó, theo quyết định 71, mức cho vay trên một hộ gia đình, cơ sở sản xuất kinh doanh còn thấp và lãi suất còn cao.

Nhằm từng bước giúp người dân, nhất là những người trong độ tuổi lao động hiện nay có việc làm và từng bước ổn định cuộc sống, Ngày 9/7/2015, Thủ tướng Chính phủ ký ban hành Nghị định 61/2015/NĐ-CP quy định về chính sách hỗ trợ tạo việc làm và quỹ quốc gia về việc làm, có hiệu lực từ ngày 1/9/2015. Điều người dân và các doanh nghiệp mong chờ nhất đối với vốn vay giải quyết việc làm hạn mức cho vay được nâng lên.

Nếu như trước đây, cơ sở kinh doanh được vay tối đa 500 triệu đồng/dự án và không quá 20 triệu đồng/lao động, nay được vay tối đa 1 tỷ đồng/dự án và không quá 50 triệu đồng/lao động được tạo việc làm. Đối với hộ, theo quy định cũ, tối đa được vay 20 triệu đồng, nay theo quy định mới được vay tối đa 50 triệu đồng. Lãi suất cho vay được áp dụng như lãi suất cho vay hộ nghèo theo từng thời kỳ do Thủ tướng Chính phủ quy định (hiện mức lãi suất cho hộ nghèo vay là 6,6%/năm). Đối với mức vay trên 50 triệu đồng, cơ sở sản xuất kinh doanh phải có tài sản bảo đảm tiền vay theo quy định của pháp luật (quy định trước đây là các dự án trên 30 triệu đồng phải thực hiện bảo đảm tiền vay). Bên cạnh đó, thời gian trả nợ cũng được kéo dài hơn. Cụ thể theo từng nhóm dự án như: cho vay ngắn hạn (dưới 12 tháng) trả nợ gốc một lần khi đến hạn; cho vay trung hạn (trên 12 tháng) kỳ hạn trả nợ tối đa 6 tháng 1 lần do NHCSXH và người vay vốn thỏa thuận, kỳ hạn trả nợ đầu tiên tối đa 12 tháng được tính từ ngày người vay nhận món tiền đầu tiên, cơ sở sản xuất kinh doanh nếu sử dụng từ 30% tổng số lao động trở lên là người khuyết tật hoặc người dân tộc thiểu số hoặc người khuyết tật và người dân tộc thiểu số; người lao động là người dân tộc thiểu số đang sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn được hưởng lãi suất bằng 50% lãi suất cho vay đối với hộ nghèo theo từng thời kỳ do Thủ tướng Chính phủ quy định (hiện nay là 3,3%/năm)…

Ngoài các đối tượng vay vốn trên, một điểm mới nữa của Nghị định 61 là hỗ trợ thanh niên lập nghiệp, học sinh các trường trung học phổ thông; thanh niên đang theo học hoặc đã tốt nghiệp đại học, trung tâm đào tạo nghề.

Cũng theo quy định tại Nghị định 61, các NHCSXH ở địa phương sẽ trực tiếp giải ngân nguồn vốn cho các cơ sở sản xuất kinh doanh, hộ gia đình. Bên cạnh đó, Ngân hàng Chính sách xã hội cũng là đơn vị giải ngân cho người lao động vay vốn thuộc nguồn vốn do Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, Liên minh Hợp tác xã Việt Nam và Hội Người mù Việt Nam quản lý. Hồ sơ, thủ tục vay vốn sẽ do Chủ tịch UBND cấp huyện trực tiếp ký thẩm định, phán quyết thay vì phải trình lên cấp tỉnh như trước đây,  nhờ vậy góp phần hạn chế các thủ tục hành chính cho người dân, tiết kiệm thời gian.

Từ khi triển khai thực hiện cho vay theo Nghị định số 61/2015/NĐ-CP đến hết ngày 30/4/2016, mới chỉ gần 5 tháng, NHCSXH đã giải ngân được 1.925 tỷ đồng với 76.801 khách hàng được vay vốn.

Tính đến hết quý I/2016, tổng nguồn vốn cho chương trình GQVL đạt 6.858 tỉ đồng, tăng 1195 tỷ đồng so với thời điểm năm 2012 (trong đó vốn ngân sách Trung ương là 4.261 tỉ đồng, Quỹ việc làm của địa phương 2.597 tỉ đồng), đã thu hút và tạo việc làm cho hơn 3 triệu lao động, góp phần giảm tỷ lệ thất nghiệp từ 5,87% (năm 2003) xuống 2,31% vào cuối năm 2015. Do đó, đây được xem là một chính sách hợp lòng dân, đáp ứng được lòng mong mỏi của hộ vay, chủ cơ sở và doanh nghiệp.

Một số đề xuất, kiến nghị về cho vay giải quyết việc làm

Để chương trình cho vay GQVL thực sự bền vững, NHCSXH đề xuất, kiến nghị Chính phủ và các bộ, ngành liên quan xem xét, phân bổ nguồn vốn ngân sách nhà nước theo từng năm đáp ứng nhu cầu vay vốn sản xuất kinh doanh của hộ vay, chủ cơ sở và doanh nghiệp. Phân bổ nguồn vốn hỗ trợ và nguồn vốn cho vay đồng bộ để các địa phương chủ động thực hiện. Bố trí cấp bổ sung vốn Điều lệ cho NHCSXH theo nội dung Chiến lược phát triển NHCSXH giai đoạn 2011-2020 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. Tạo điều kiện cho NHCSXH được tiếp cận với nguồn vốn ODA để tạo lập nguồn vốn ổn định, lâu dài, lãi suất thấp để tăng nguồn vốn cho vay đối với hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác.

Đối với các địa phương, NHCSXH cũng kiến nghị chính quyền địa phương tập trung chỉ đạo các ngành thực hiện tốt chính sách tín dụng hộ nghèo. Hàng năm bố trí đủ tỷ lệ vốn vay cho NHCSXH từ nguồn vốn ngân sách địa phương theo quy định của Nghị định số 78/2002/NĐ-CP ngày 04/10/2002, ưu tiên từ nguồn tăng thu và tiết kiệm chi để ủy thác cho NHCSXH cho vay giải quyết việc làm trên địa bàn.

Để phát huy hiệu quả hơn nguồn vốn ưu đãi từ Quỹ quốc gia về việc làm, chính quyền các cấp cần quan tâm chỉ đạo các cơ quan chuyên môn (khuyến công, nông, lâm, ngư…) hướng dẫn dạy nghề, định hướng sản xuất, tập huấn và chuyển giao khoa học kỹ thuật đối với các hộ vay vốn. Phối hợp, lồng ghép vốn tín dụng chính sách với các dự án khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư nâng cao hiệu quả nguồn vốn tín dụng ưu đãi. NHCSXH phối hợp chặt chẽ với chính quyền địa phương, các tổ chức Hội, đoàn thể nhận ủy thác và các Tổ tiết kiệm & vay vốn đẩy mạnh công tác vận động, tuyên truyền chủ trương, chính sách của Nhà nước đến nhân dân. Đồng thời, hướng dẫn cho vay đúng đối tượng, sử dụng vốn vay đúng mục đích và quản lý, giám sát thực hiện chính sách tín dụng ưu đãi.

Thực hiện tốt những vấn đề này chính là giải pháp căn bản để tín dụng chính sách phát huy tối đa hiệu quả trong đời sống xã hội, tạo việc làm mới và tăng thêm việc làm cho người lao động, giảm thiểu tỷ lệ thất nghiệp, góp phần tích cực xây dựng nông thôn mới, bảo đảm an sinh xã hội, xây dựng đất nước giàu mạnh.